Để thúc đẩy học tập, hãy kết hợp vận động trong lớp

BBT: Hình ảnh một lớp học có phần hơi “bị động” với hình ảnh giáo viên luôn giảng bài trên bục giảng, và học sinh ngôi nắn nót chép bài, sẽ dần dần được thay thế trong tương lai, đặc biệt là khi mà việc ghi chép và tiếp thu kiến thức từ thầy cô một cách thụ động không còn thích hợp với một giới trẻ năng động và luôn hướng về sự đổi mới, sáng tạo hiện nay. Dưới đây là một bài viết về những sự chuyển động trong lớp học, một trong những cách thức khiến học sinh phải chủ động hơn trong quá trình tiếp thu kiến thức, tăng sự liên kết trong lớp học. 

Làm sao để tạo nên một cơn sóng vận động trong lớp học? Cùng FLC tìm hiểu qua bài viết này nhé!
————-
Nếu bạn bắt đầu hát “The Itsy-Bitsy Spider” ngay bây giờ, tôi cá rằng bạn sẽ rất khó giữ yên tay. Đó là bởi vì hầu hết chúng ta biết bài hát này đều học bài hát bằng cử chỉ và những thứ chúng ta học được bằng chuyển động cơ thể có xu hướng bền lâu trong bộ nhớ.

Chúng ta có thể áp dụng nguyên tắc tương tự cho việc học trên lớp, sử dụng chuyển động để nâng cao việc học từ mầm non đến hết đại học. Hãy xem nghiên cứu nói gì về việc học dựa trên chuyển động, sau đó khám phá sáu cách khác nhau để bạn có thể thêm nhiều chuyển động hơn vào bài giảng của mình.

NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN ĐỘNG

Khái niệm “phong cách học tập” đã bị các nhà nghiên cứu coi là vô căn cứ, vì vậy việc cố gắng xác định học sinh nào của bạn là những người học thông qua chuyển động sẽ không phải là cách sử dụng thời gian hiệu quả. Điều đáng để bạn dành thời gian là sử dụng chuyển động khi làm việc với tất cả người học, bởi vì có rất nhiều nghiên cứu hỗ trợ điều đó.

Nói chung, mọi người học tốt hơn khi thông tin được trình bày theo nhiều cách (Sankey, Birch, & Gardiner, 2010). Nói cách khác, nếu chúng ta tiếp nhận thông tin thông qua nhiều giác quan, chúng ta có nhiều khả năng mã hóa nó trong bộ nhớ dài hạn. Điều này sẽ bao gồm các phương thức học tập bằng hình ảnh, lời nói và động học.
Cụ thể, việc sử dụng cử chỉ mang lại kết quả học tập lâu dài hơn so với học mà không sử dụng cử chỉ (Cook, Yip, & Goldin-Meadow, S, 2010). Vì vậy, ngay cả việc bổ sung một vài cử chỉ tay nhỏ cũng có thể tác động đến mức độ ghi nhớ tài liệu của học sinh.

Hàng loạt nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động thể chất kích hoạt não, cải thiện chức năng nhận thức, và có tương quan với việc cải thiện kết quả học tập (Donnelly & Lambourne, 2011). Điều này có nghĩa là bất kỳ loại hoạt động thể chất nào, không chỉ là chuyển động liên quan đến bài học, đều có thể mang lại lợi ích về mặt học tập cho học sinh.

SÁU CÁCH ĐỂ THÊM CHUYỂN ĐỘNG VÀO BÀI GIẢNG

1. PHẢN ỨNG VẬT LÝ TỔNG THỂ

Được phát triển để sử dụng cho những người học ngôn ngữ thứ hai vào những năm 1960 (Asher, 1966), Total Physical Response (Phản ứng vật lí tổng thể) chỉ đơn giản là để học sinh thực hiện các cử chỉ cơ thể để biểu thị các từ vựng. Được chứng minh là có hiệu quả cao với cả trẻ em (Singh, 2011) và người lớn (Carruthers, 2010), TPR cũng có thể được sử dụng để giúp người học ghi nhớ các thuật ngữ từ vựng mới trong ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Nói cách khác, nó có thể được sử dụng trong bất kỳ lĩnh vực nội dung nào, với bất kỳ học sinh nào.

Video này từ Teacher Toolkit cho thấy giáo viên Texas Michael Rowland sử dụng TPR với các học sinh lớp ba của mình, những người đang học tiếng Anh.

Và đây là Craig Gaslow, một giáo viên Texas khác dạy môn Địa lý Nhân văn của AP, trình bày cách anh ấy sử dụng TPR để dạy ba mô hình lan tỏa khác nhau.

2. Báo chí và ảnh chụp nhanh

Trong chiến lược này, học sinh tạo ra một “ảnh chụp nhanh” với cơ thể của họ, một bức ảnh tĩnh đại diện cho một ý tưởng.

Ví dụ này, được thực hiện bởi giáo viên lớp 4 Stefannie Cundiff, đến từ Teacher Toolkit.

Một ví dụ khác được giải thích trong bài trình bày này bởi Tyler Jacobs, một giáo viên tiếng Anh và xã hội học của trường trung học ở Idaho.

3. MÔ PHỎNG

Trong phương pháp này, học sinh chứng minh một khái niệm với một số loại chuyển động hoặc tương tác. Chúng có thể đại diện cho các thành phần không phải con người, như trong các ví dụ dưới đây hoặc chúng thực sự có thể đảm nhận vai trò của con người trong việc tái hiện một sự kiện.

Ví dụ đầu tiên đến từ Đại học British Columbia, nơi giáo sư kỹ thuật điện Matthew Yedlin cho sinh viên mô phỏng sự khác biệt giữa tăng trưởng tuyến tính và tăng trưởng theo cấp số nhân.

Ví dụ thứ hai, một mô phỏng của hệ thống tuần hoàn, đến từ Michelle Cliche, dạy lớp 4 và 5 ở London, Ontario, Canada.

Cuối cùng, đây là một loại mô phỏng khác do Amy Tepperman thể hiện, trong đó những người tham gia thể hiện các phân số bằng cách đặt các bộ phận cơ thể khác nhau trên sàn, giống như trò chơi Twister.

Một lưu ý quan trọng về mô phỏng: Nếu bạn đang thực hiện mô phỏng về các giai đoạn hoặc sự kiện lịch sử, hãy tiến hành một cách thận trọng. Nhiều, rất nhiều giáo viên đã gây ám ảnh cho học sinh bằng những kiểu mô phỏng này. Bài viết này của Teaching Tolerance sẽ khám phá chủ đề một cách chuyên sâu.

4. BÀI HÁT CÓ CHUYỂN ĐỘNG

Các bài hát là một cách hiệu quả khác để dạy các khái niệm cho học sinh, và nếu các bài hát cũng kết hợp chuyển động thì thậm chí còn tốt hơn.

Dan Adler, một giáo viên khoa học lớp 6 ở Lawrence, MA, thường xuyên sử dụng các bài hát với các chuyển động thể chất để giúp học sinh của mình ghi nhớ các khái niệm đầy thử thách. Trong video này, học sinh trình diễn “Bodak Particles”, một bài hát về sự thay đổi giai đoạn được hát theo phiên bản không lời của bài hát “Bodak Yellow” của Cardi B.

5. THỰC TẾ ẢO (VIRTUAL REALITY – VR) VÀ THỰC TẾ ẢO TĂNG CƯỜNG (AUGMENTED REALITY – AR)

Những trải nghiệm được cung cấp bởi thực tế ảo và thực tế tăng cường cho phép học sinh di chuyển xung quanh và tương tác với các vật thể và không gian ảo theo những cách sẽ rất khó nếu không muốn nói là không thể thực hiện được trong thế giới thực.

Thực tế tăng cường ghép chồng các cải tiến kỹ thuật số lên trên các đối tượng trong thế giới thực, vật lý. Sử dụng một thiết bị, chẳng hạn như điện thoại thông minh, được tải bằng phần mềm AR, người dùng trỏ nó vào một bức tranh hoặc đối tượng vật lý và phần mềm này hiển thị một số loại yếu tố kỹ thuật số như hoạt ảnh 3D, văn bản hoặc video. (Pokémon Go là một ví dụ về trò chơi AR.)

Một bộ công cụ AR có tiềm năng học tập to lớn đến từ một công ty có tên là Merge. Merge Cube của họ là một khối cầm tay có thể “trở thành” nhiều đối tượng khác nhau khi được ghép nối với Merge Goggles.

Thực tế ảo đưa người dùng vào môi trường 360 độ, mô phỏng do máy tính tạo ra, có thể xem được qua tai nghe VR và cho phép họ di chuyển và tương tác với môi trường đó.

Một nguồn nổi bật cho trải nghiệm VR là Google Expeditions, cung cấp các chuyến tham quan đến hơn 500 địa điểm khác nhau: địa danh lịch sử, công viên quốc gia và tiểu bang, địa điểm dưới nước và nghiên cứu cận cảnh các hiện tượng khoa học.

Và nếu bạn không tìm thấy chuyến tham quan chính xác mà mình muốn, bạn và sinh viên của bạn thậm chí có thể tạo chuyến thám hiểm của riêng mình với Google Tour Creator.

6. CHUYỂN ĐỘNG KHI GIẢI LAO

Tôi để lại cái này cho đến cuối vì nó dễ thực hiện nhất. Hướng dẫn giải lao của Đại học Texas này tóm tắt nghiên cứu về mối liên hệ giữa chuyển động và thành tích học tập, đồng thời đưa ra hàng tá ý tưởng cho việc nghỉ ngơi của não có thể được đưa vào hành động ngay lập tức.

Các video giải trí rất dễ tìm thấy trên YouTube, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Con gái tôi về nhà khi học lớp một năm trước rất phấn khích khi chứng minh điều này cho tôi.

Nhưng những đứa trẻ lớn hơn thì sao? Giáo viên toán trung học David Sladkey đã viết một cuốn sách tuyệt vời dành cho mọi lứa tuổi, ngay cả những học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, những người có thể không cảm thấy thoải mái với cách giải trí trên. Trong video này, học sinh chứng minh một động tác giải lao đơn giản khi cử động ngón chân:

MẸO ĐỂ BẮT ĐẦU

Đừng lạm dụng nó. Cố gắng thêm một thành phần chuyển động vào mọi khái niệm mà học sinh học sẽ không chỉ tốn quá nhiều thời gian mà còn có thể trở nên cũ kỹ, chán chường

Lấy ý kiến ​​đóng góp từ học sinh. Khi nghĩ ra các cử chỉ hoặc chuyển động, bạn không cần phải chỉ dựa vào bộ não của mình. Yêu cầu học sinh giúp bạn đưa ra ý tưởng. Cho học sinh tham gia vào quá trình này sẽ giúp họ ghi nhớ các khái niệm tốt hơn và sẽ tăng khả năng bạn thực hiện được các động tác thực sự hiệu quả.

Sử dụng chuyển động để thực hành truy hồi. Thay vì sử dụng chuyển động trong một bài học, hãy áp dụng các nguyên tắc của thực hành truy hồi bằng cách lặp lại các động tác trong các buổi tập ngắn, giãn cách chúng theo thời gian và đan xen các khái niệm với nhau.

Đối với những học sinh nhỏ tuổi, những cử chỉ ý nghĩa quan trọng hơn. Trong khi người lớn học từ cả những cử chỉ mang tính biểu tượng (những cử chỉ có một số ý nghĩa liên quan đến khái niệm mà họ được kết nối với) và những cử chỉ theo nhịp (những cử chỉ không có ý nghĩa cố hữu mà chỉ gắn với “nhịp” cụ thể trong một câu hoặc cụm từ) thì trẻ hơn trẻ em học được nhiều hơn từ những cử chỉ mang tính biểu tượng (So, Sim Chen-Hui, & Low Wei-Shan, 2012). Vì vậy, khi làm việc với học sinh nhỏ tuổi, hãy cố gắng làm cho các cử chỉ phù hợp với các khái niệm theo một cách nào đó.

Tác giả: Jennifer Gonzalez

Nguồn: To Boost Learning, Just Add Movement

Biên dịch: Đinh Trần Phương Anh

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *